Đại Ý Của Việc Dịch Giải Kinh Điển
Trước khoảng những năm 2000, chúng tôi ở chùa đọc tụng Kinh điển theo bộ “Chư Kinh Nhật Tụng ”, phần lớn là các bản Kinh phiên âm Hán Việt. Thậm chí những khóa lễ tụng kinh cầu nguyện đều toàn bằng chữ Hán như bộ kinh Di Đà, kinh Dược Sư, kinh Địa Tạng, kinh Thủy Sám, kinh Ngũ Bách Danh,… Các nghi lễ cúng tụng cũng nguyên bản chữ Hán, chúng tôi chỉ biết học theo. Sau năm 2000 trở đi sự phát triển, thông thương kinh tế xã hội thăng tiến, thì những bộ Kinh trên mới được dịch nghĩa, in ấn phổ cập khắp các nơi Chùa, Viện. Sau dần dần nhiều các bậc dịch giả quá, nên không rõ bộ Kinh dịch nghĩa nào được chọn là phổ thông nhất. Nhưng theo chúng tôi nhận thấy rằng, bộ Kinh dịch nghĩa nào mà khi tán tụng, đọc lên mà thấy vần điệu, âm tiết và vẫn giữ được đúng ý nghĩa là được. Hơn nữa Phật giáo cốt yếu ở việc hành trì, thực hành công phu nơi bản thân mỗi hành giả, chứ không phải riêng việc diễn giải ý nghĩa văn tự nơi ngôn ngữ, lý thuyết suông.
Bởi phần lớn các bộ Kinh điển Bắc tông đều bằng chữ Hán, mà đặc biệt là chữ Hán cổ, không thuộc hệ chữ Hán phổ thông giản thể như ngày nay. Do đó việc dịch giải để học hỏi, sẽ phải khác hơn so với việc dịch giải để tụng đọc, ca ngâm, vần điệu, nhưng tựu chung lại là vẫn giữ nguyên ý nghĩa chính yếu của bản Kinh mà đức Phật đã thuyết. Đơn cử như mở đầu các bản Kinh thường là: “ Như thị ngã văn,…”, thì có dịch phẩm ghi là “Như vầy tôi nghe,…”, có chỗ lại ghi là “ Tôi nghe như vầy,…”. Như vậy rõ ràng là các bản dịch đều không ai sai, nhưng khi tán tụng lên thì câu “ Tôi nghe như vầy,…” nghe có vẻ hợp lý xuôi tai hơn. Bởi “Như vầy tôi nghe” hay “Tôi nghe như vầy” đều ý chỉ ngài Anan được nghe đức Phật thuyết mà Ngài nói lại lời Phật dạy. Đây là đoạn mở đầu ở hầu hết các bộ Kinh và các bộ kinh đều chỉ rõ “ Lục chủng thành tựu” hay “Lục chủng chứng tín” gồm: Tín, văn, thời, chủ, xứ, chúng.
Vậy vấn đề phiên dịch và giảng giải đòi hỏi phải có thời gian, kinh nghiệm trải qua của bản thân tác giả cũng như các văn bản chuẩn xác. Đơn cử như có được một Văn-bản như bộ Kinh, Luận rõ ràng bao gồm cả chú thích, niên đại, tác giả viết hoặc khắc ván. Chúng tôi được biết đa phần các bộ Kinh, Luận ngày trước được lưu hành phần lớn là các bản Kinh-xếp được khắc ván tỉ mỉ kỹ lưỡng, in ra giấy xong dán lại và gấp gọn gàng thành sách. Chữ in ván rất rõ ràng to tát, chính xác, có cả niên đại khắc ván, người chủ đứng khắc, người thợ khắc, người công đức tiền để khắc, nơi lưu trữ ( tàng bản). Vì là bàn in bằng gỗ “Mộc bản ” , mỗi một mặt trang in là một tấm gỗ nên bộ Kinh nào cũng rất cồng kềnh đồ sộ. Như bộ kinh Pháp Hoa, kinh Dược Sư, kinh Di Đà, kinh Địa Tạng, bộ Luật Sa Di, Luật Tỳ Kheo, bộ Yết Ma Chỉ Nam, …
Để có được một bản dịch, giải chuẩn chỉ rõ ràng thì đòi hỏi người dịch (tác giả) phải có được một bản gốc chính xác, và các bản tham chiếu, tham khảo liên hệ, để bản dịch được chu toàn hơn. Nói chung là các văn bản cổ chữ Hán, nếu có điều kiện tham chiếu các bản tiếng Anh, hoặc tiếng Pali nếu có.
Phiên dịch các bản Kinh cần nhất là có các bản chú thích kèm theo, để biết rõ nguồn gốc xuất xứ, niên đại, số lượng Trang hay tờ. Hoặc mục lục của bộ Kinh, tác giả đã dịch trước, hoặc chưa ai dịch, nơi tàng bản lưu trữ… Dịch nghĩa bản Kinh từ bản gốc chữ Hán sang tiếng Việt để tụng đọc theo thể Trùng-tụng ( Văn xôi), hoặc ca ngâm theo thể Văn vần (Thơ phú) sẽ ngắn gọn co đọng khác hơn so với việc Dịch giảng. Bởi khi dịch giảng cho rõ ngữ nghĩa của bản Kinh đòi hỏi phải dài dòng nhiều yếu tố liên hệ như lịch sử niên đại, thời gian, địa lý, địa danh, phương ngữ vùng miền,… rồi các Pháp số, các thuật ngữ Phật giáo,… Thế nên một bản Kinh tụng đọc sẽ phải ngắn gọn, vần điều và có phần ít nghĩa hơn các bản Kinh giảng giải để nghiên cứu. Đơn cử như một bài Kệ tụng nguyên âm:
“Nhất bát thiên gia phạn
Cô thân vạn lý du
Kỳ vi sinh tử sự
Giáo hóa độ xuân thu”
Có rất nhiều các bản dịch nghĩa khác nhau, nhưng tựu chung ý nghĩa cũng vẫn như nhau. Mục đích là ca ngợi công hạnh của người Xuất-gia tu đạo giải thoát. Các bản dịch nghĩa :
Một bát cơm ngàn nhà
Thân chơi muôn dặm xa
Chỉ vì việc sinh tử
Giáo hóa độ người qua.
Có thể dịch giảng ngắn gọn: Bát cơm xin từ một nhà đến nghìn nhà. Thân một mình đi muôn dặm. Bởi do việc lớn sinh tử. Giáo hóa từ người trẻ đến người già. Đây là công việc thể hiện đức hạnh giá trị ý nghĩa cao đẹp của một Hành-giả tu đạo Giải-thoát theo đúng tinh thần Giác-ngộ của Phật-giáo. Bởi khi Cô-thân tức thân một mình không vướng bận trần ai, không ràng buộc mới có thời gian tu tập, hoằng hóa Phật pháp đến khắp muôn người. Việc du phương hành đạo Khất-thực là một công hạnh cao lớn của các Bậc thực hành đạo Bồ-tát. Không vì danh lợi không để lại dấu vết hay sai sót gì trong mọi ý nghĩ, hành động của bản thân.
Hiện chúng tôi đang có các bản Photo như:
Bộ Thụ Giới Nghi Quỹ Biệt Tập, một số tờ đầu bị thiếu, hoặc mờ nát hoặc không có, chỉ có ghi lời dạy của Tổ sư Từ Vân tức Đại sư Tuân Thức đời Tống “ Từ Vân Tổ sư ngôn”.Cuối bộ này có ghi là tàng bản lưu tại “ Hà Nội tỉnh, Hoài Đức phủ, Thọ Xương huyện, Cảm Ứng giáp, Giác Hoa Tự ”. Cộng chung có 79 Trang “ Thất thập cửu chỉ ”, có thêm phần “Thụ tam quy sám hối sớ ”, “ Xuất gia quy y thế phát sám hối sớ”. “Nữ nhân thụ Sa di ni giới sớ ”, “ Sa di ni thụ Tỳ kheo ni giới sớ ”. Tên người và nơi các chủ cúng tiền in khắc như: Hà Nội tỉnh, Bắc ninh tỉnh, Đại Thanh quốc Quảng Đông tỉnh,…Số tiền như một Nguyên, một Quan, 652 quan,…
Bộ kinh Diệu Pháp Liên Hoa Kinh ghi: “ Tần, Tam tạng pháp sư Cưu Ma La Thập, dịch ”, “Đường, Chung Nam Sơn, Sa môn Đạo Tuyên, hoằng truyền”. Phía trong ghi “ Diêu Tần, Tam tạng pháp sư Cưu Ma La Thập, dịch”. Toàn bộ kinh này là bảy quyển, chia làm hai tập Thượng và Hạ “ Kinh phẩm, toàn bộ thất quyển, nhiếp vi nhị tập”.
Bộ Tạp Tiếu do thầy trò sa môn Huệ Tập Thích Huỳnh Huỳnh và Tinh Tiến Thích Sâm Sâm tổ chức tuyển tập san khắc vào niên hiệu Tự Đức Thứ 12 (1858). Mộc bản lưu tại chùa Diên Phúc, xã An Viễn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Ninh. Trọn bộ 7 tập với 444 trang.
Bộ “Tam Giáo Chính Độ ”, chủ trì tiểu sĩ Chính Đại Đính Tập.
Căn cứ vào bộ “Tạp Tiếu”, chúng tôi rút ra tập Tân – gia gồm 4 khoa: Thỉnh Thánh kỳ an khánh trạch, An địa mạch hoàn thổ, Sám thổ công, Sám táo quân khoa. Bộ “Tam Giáo Chính Độ” có Phục hồn nghi,…